Thao tác sơ cứu trẻ cơ bản trong ăn dặm

0
720

Trong sinh hoạt hàng ngày các bé rất dễ gặp phải những trường hợp như: Sặc sữa, sặc bột, hóc xương, sốt giật tím tái… Do cơ thể bé vẫn còn quá yếu chưa thể tự điều tiết và tiết kháng thể bảo vệ nên rất dễ sảy ra những chuyện ngoài ý muốn. Vì vậy FamilyAZ.net muốn chia sẻ cho các mẹ các thao tác sơ cứu trẻ cơ bản đối với những trường hợp nguy hiểm thường gặp ở trẻ để tránh được những rủi ro ngoài ý muốn.

1. Bé bị sặc sữa, cháo, bột ăn dặm…

Nguyên nhân:

  • Đầu tiên dẫn đến việc trẻ bị sặc sữa chính là do các mẹ hoặc người trông trẻ cho trẻ bú sữa, ăn không đúng tư thế (cho trẻ bú trong tư thế nằm ngửa).
  • Thứ hai, lượng sữa ra quá nhiều do núm vú cao su quá rộng, dẫn đến trẻ không thể bú kịp lượng sữa chảy ra.
  • Thứ ba, đây là nguyên nhân thường mắc phải ở các bà mẹ, đó là khi trẻ đang khóc, các mẹ cho trẻ bú để dỗ cho trẻ nín. Tuy nhiên đây là một sai lầm tai hại khiến cho trẻ có thể bị sặc.

Biểu hiện:

Khi bị sặc trẻ sẽ ngừng ăn và ho sặc sụa. Cơ thể tím tái, đặc biệt là mặt trẻ có biểu hiện khó thở, thở dốc, thở gấp. Hai mắt trợn ngược . Đối với những trường hợp nặng trẻ có thể bị ngừng thở và dẫn đến tử vong.

Biểu hiện trẻ bị sặc

Biểu hiện trẻ bị sặc.

Cách sơ cứu (Đối với trẻ nhỏ)

Hãy đặt trẻ nằm sấp, úp trên cẳng tay của bạn, đầu của trẻ hơi chúc xuống phía dưới, sau đó vỗ nhẹ vào lưng của trẻ từ 5 -7 cái để tống dị vật đang mắc ở cổ họng của trẻ ra ngoài.Nếu cách đó vẫn không hiệu quả, xoay mặt bé về cánh tay kia của bạn, nhìn vào trong miệng bé, nếu thấy dị vật hãy lấy một ngón tay móc dị vật đó ra ngoài. Tuy nhiên, nên nhớ không nên chọc quá sâu vào trong cổ họng của trẻ, bởi nó có thể gây ra tổn thương.

Sơ cứu trẻ bị sặc

Sơ cứu trẻ bị sặc.

Trong trường hợp dị vật vẫn không ra, hãy đặt bé nằm nguyên ở tư thế đó, dùng hai ngón tay đặt lên phần nửa dưới xương ức của trẻ và ấn mạnh xuống khoảng 3 giây một lần. Cách này sẽ tạo ra cơn ho nhân tạo để dị vật có thể bị tống ra ngoài khi bé ho. Nếu như tất cả các cách trên đều không hiệu quả, dị vật vẫn không được tống ra ngoài, bạn hãy đặt trẻ nằm ngửa, đặt hai ngón tay lên phần phía dưới của xương ức ấn 5 lần liên tiếp. Và sau đó, hãy đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ kiểm tra, thăm khám.

Đối với trẻ lớn: bạn hãy đặt trẻ nằm ngửa, dùng tay ấn thật nhanh và mạnh vào khu vực giữa xương ức và xương sườn của trẻ. Hoặc bạn có thể đặt trẻ khum người về phía trước, dùng tay vỗ mạnh vào lưng ( khu vực giữa hai bả vai) để dị vật được đẩy ra ngoài.

Cách phòng tránh trẻ bị sặc

Không được cho trẻ bú sữa khi trẻ đang khóc, chơi đùa hay trẻ đang buồn ngủ bởi lúc này trẻ đang không tập trung.

Không nên vừa nằm, vừa cho con bú

Trong trường hợp sữa mẹ về quá nhiều, trẻ không kịp ăn, để tránh sặc cho trẻ, mẹ hãy dùng hai ngón tay kẹp thật chặt núm vú lại để giảm lượng sữa xuống, khi đó trẻ mới có thể bú tiếp.

Cho con ăn đúng cách để tranh bị sặc

Cho con ăn đúng cách để tranh bị sặc.

Đối với những trẻ bú bình: các mẹ nên để núm vú cao su to vừa phải để đảm bảo lượng sữa không ra quá nhiều khi trẻ đang ăn.

Khi trẻ bú xong, dùng tay vỗ nhẹ vào lưng trẻ để trẻ ợ hơi và giảm chớ sữa.

Đối với những trẻ đã ăn được cơm, cháo: cha mẹ cần làm nhỏ thức ăn, hạn chế cho trẻ ăn các loại hạt bởi chúng có thể bị mắc ở cổ họng và làm trẻ bị hóc, chớ, nôn.

2. Bé bị hóc di vật gây hiện tượng khỏ thở và nguy cơ tử vong cao

Nguyên nhân:

Nhiều trẻ do tinh nghịch và bộ não chưa nhận thức nên hay cầm vật lạ cho vào mồm, hoặc do sơ ý trong chế biếm mà các mẹ đã làm rơi một vật lạ vào bữa ăn của bé khiến bé bị hóc lúc ăn. Khi trẻ bị hóc dị vật  trong nhiều trường hợp không phát hiện kịp thời sẽ khiến dị vật đi vào sâu hơn, trầy xước họng gây sưng tấy, trẻ càng khó thở hơn. Nặng có thể dẫn đến tử vong.

Biểu hiện:

Di vật ép đường thở sẽ khiến bé khó thở, quấy khóc, mặt tím tái và thường sẽ có hiện tượng nấc ọe lên. Nếu không cấp cứu kịp thời để di vật vào sâu có thể 5 phút sau khiến bé ngừng thở và tử vong.

Cách sơ cứu

  • Cách 1:

Khi trẻ bị hóc dị vật,cha mẹ tuyệt đối không dùng tay móc họng trẻ. Điều này trong nhiều trường hợp sẽ khiến dị vật đi vào sâu hơn, trầy xước họng gây sưng tấy, trẻ càng khó thở hơn. Nếu trẻ vẫn tỉnh táo,hồng hào, không khó thở, vẫn khóc được nói được thì giữ nguyên tư thế ngồi,nhanh chóng mang đến bệnh viện để bác sĩ kiểm tra, nếu đúng dị vật đường thở sẽ lấy ra. Nếu trẻ có biểu hiện tím tái, khó thở nặng, ngưng thở, không khóc được, không nói được thì sau khi gọi xe cấp cứu, cần phải tiến hành thủ thuật can thiệp kịp thời trong thời gian đợi xe tới.

  • Cách 2:

Với trẻ dưới 2 tuổi,dùng phương pháp vỗ lưng ấn ngực. Cho trẻ nằm sấp trên cánh tay trái của người sơ cứu, đầu hướng xuống đất. Lưu ý giữ chắc để cổ và đầu trẻ khỏi bị tuột. Dùng gót bàn tay phải vỗ mạnh 5 cái vào vùng lưng giữa 2 xương bả vai của trẻ.

Sợ cứu trẻ bị hóc di vật

Sợ cứu trẻ bị hóc di vật.

Sau đó lật trẻ từ tay trái qua tay phải của người sơ cứu. Quan sát em bé xem có hồng hào chưa, cóthở, khóc được chưa. Kiểm tra miệng trẻ xem có dị vật nào không và lấy ra. Nếu dị vật vẫn chưa ra ngoài hoặc trẻ vẫn chưa thở thì làm tiếp biện pháp ấn ngực.Lấy 2 ngón tay ấn vào vùng thượng vị (vùng trên rốn và dưới xương ức). Ấn mạnh5 cái theo chiều từ trên xuống dưới liên tiếp. Kiểm tra xem bé đã thở, khóc lại chưa, nếu chưa tiếp tục lặp lại động tác này cho đến khi xe cấp cứu tới

 *Với trẻ trên 2 tuổi, có thể dùng biện pháp ép bụng, còn được gọi là phương pháp Heimlich:

  • Trường hợp trẻ còn tỉnh. Để cho trẻ đứng. Người sơ cứu đứng phía sau lưng hoặc quỳ gối, choàng 2 tay ra phía trước ngang thắt lưng. Một tay nắm thành nắm đấm, một tay chồng lên tay còn lại, đặt ngay vào vị trí ở vùng thượng vị, dưới xương ức của trẻ. Ấn mạnh theo hướng từ dưới lên trên 5 cái thật mạnh liên tiếp. Nếu chưa hóc dị vật ra thì có thể lặp lại biện pháp này từ 6 đến 10 lần.
  • Trường hợp hôn mê, bất tỉnh. Đặt trẻ nằm ngửa. Người sơ cứu quỳ gối, tựa hai chân hai bên đùi trẻ. Nắm 2 bàn tay thành nắm đấm, đột ngột ấn vào dưới xương ức của trẻ. Ấn mạnh từ dưới lên trên 5 cái liên tiếp.

Trong tình huống bệnh nhân hôn mê và không thở được thì trước tiên phải bắt đầu bằng hà hơi thổi ngạt 2 cái. Nếu dị vật vẫn chưa ra, trẻ vẫn chưa thở được thì cần thì kết hợp vừa hà hơi thổi ngạt vừa dùng tay ấn, cho đến khi dị vật văng ra hoặc bệnh nhân khóc, thở được, hồng hào hơn.

Sợ cứu trẻ bị hóc di vật
Kết hợp hà hơi thổi ngạt.

Cách phòng tránh

Để tránh trường hợp con bị hóc dị vật, cha mẹ nên dạy bé có thói quen tập trung cao độ khi ăn, tránh cười đùa, chạy nhảy, nằm ăn, và luôn để ý tới bé. Tuyệt đối không để bé tự ý bốc đồ ăn khi chưa có sự đồng ý, giám sát của cha mẹ.

3. Bé bị sốt cao, co giật.

Nguyên nhân:

Do yếu tố di truyền: Theo các chuyên gia, nếu trong gia đình có người thân hoặc cha mẹ có tiền sử bị sốt cao, co giật thì đứa trẻ sinh ra có nguy cơ bị sốt cao, co giật gấp 2 – 3 lần những trẻ bình thường. Nếu cả bố và mẹ đều có tiền sử bị sốt cao, co giật thì khả năng con bị bệnh cao hơn gấp nhiều lần.

Do trẻ bị sốt kèm theo nhiễm trùng đường hô hấp trên, nhiễm khuẩn đường tiêu hóa. Bên cạnh những trẻ bị rối loạn chất điện giải, vitamin B6 cũng là nguyên nhân gây sốt cao, co giật ở trẻ.

Bé sốt cao dễ dẫn đến co giật, biến chứng

Bé sốt cao dễ dẫn đến co giật, biến chứng.

 Sốt cao, co giật thường gặp ở các bé trong độ tuổi 1 – 3 tuổi. Ở các bé gái tuổi càng nhỏ nguy cơ bị sốt cao, co giật cao hơn các bé trai cùng độ tuổi. Cơn co giật xảy ra khi trẻ bị sốt ở nhiệt độ từ 39,2 độ C, khoảng 25% xảy ra khi nhiệt độ của bé là 40,2 độ C. Những em bé ở độ tuổi 6-18 tháng tuổi, sốt co giật diễn ra khi nhiệt độ trên 40 độ C.

Biểu hiện:

Tùy theo mức độ nặng nhẹ bé sẽ biểu hiện các trạng thái bệnh nhau. Thông thường khi sốt cao  bị giật người bé sẽ cứng đờ lại, da tái tím đi và ngất lịm.

Cách sơ cứu:

  • Bước 1:

Khi trẻ bị sốt cao, co giật, cha mẹ nhanh chóng đặt trẻ nằm ở nơi bằng phẳng, tạo không khí thông thoáng, nới quần áo của trẻ rộng ra, đặc biệt là vùng cổ hoặc có thể cởi hết quần áo của trẻ.

  • Bước 2:

Sau đó dùng khăn sạch nhúng vào nước ấm, vắt sạch nước và lau khắp người trẻ, đặc biệt vùng bẹn, nách, cổ trẻ và trán, lau đi lau lại liên tục cho đến khi trẻ hết cơn co giật thì dừng lại.

Hạ sốt cho bé
Hạ sốt cho bé.
  • Bước 3:

Khi bị sốt cao, co giật trẻ không thể uống được thuốc hạ sốt nên phải nhanh chóng đặt thuốc hạ sốt bằng đường hậu môn, đối với trẻ 2 dưới 2 tuổi dùng viên viên paracetamol 80mg, trẻ lớn dùng viên 150mg.

  • Bước 4:

Khi trẻ hết cơn co giật, cha mẹ nên cho con nằm nghiêng sang một bên, đầu kê gối ở vị trí an toàn, hơi ngửa để tránh dịch hậu môn vào phổi gậy nguy hiểm đến tính mạng trẻ.

  • Bước 5:

Nhanh chóng đưa trẻ đi cấp cứu để được điều trị sớm phòng tránh cơn co giật tái phát.

Cách phòng tránh

Khi trẻ bị sốt cao không được ghì chặt trẻ vì có thể làm tổn thương một bộ phận nào đó trên cơ thể hoặc làm gãy xương trẻ. Tuyệt đối không cho trẻ ăn hoặc uống bất cứ thứ gì vì có thể khiến trẻ bị sặc. Không dùng vật cứng để ngang miệng để ngăn trẻ cắn lưỡi vì trẻ bị sốt co giật ít cắn lưỡi. Mà sẽ làm tổn thương niêm mạc, làm gãy răng, sứt lợi trẻ. Không ủ ấm, hoặc mặc thêm quần áo cho con mà nên nhanh chóng làm mát cơ thể bằng cách nới rộng quần áo, đặt trẻ ở phòng thoáng mát.

Đưa trẻ đi kiểm tra thường xuyên
Đưa trẻ đi kiểm tra thường xuyên.
Ngoài ra, khi trẻ mới bị sốt nên cho con uống thật nhiều nước, hoặc chất điện giải bù nước, cởi bớt quần áo trên người bé, nới rộng quần áo, đặt trẻ nằm ở nơi thông thoáng mát. Không được mặc quá nhiều quần áo hoặc ủ ấm trẻ quá kín.Cặp nhiệt độ để theo dõi thân nhiệt của trẻ thường xuyên. Chườm nóng và lau người cho trẻ bằng nước ấm, cho trẻ uống thuốc hạ sốt khi nhiệt độ trên 39 độ C.

4. Tham khảo một số bước sơ cứu cơ bản để cứu người.

Tư thế nằm an toàn

Trong trường hợp nạn nhân bất tỉnh, không trả lời được các câu hỏi đưa ra, không mở mắt, mất các phản xạ có điều kiện (Tay, chân rơi tự do…) thì ta phải lập tức sơ cứu nạn nhân như sau.

Khi nạn nhân bất tỉnh, hệ thống cơ không hoạt động nữa, trong đó có phần lưỡi. Lúc bất tỉnh, lưỡi của nan nhân thụt vào trong, gây nghẹt đường thở, và có nguy cơ dịch bao tử trào vào phổi gây tắt thở.

Vì thế, tư thế đầu ngửa sau, nâng cằm đã là một động tác giúp lưỡi không bị tụt vào trong, thông thoáng đường thở.

Sau khi kiểm tra tình trạng bất tỉnh và hơi thở của nạn nhân, bạn phải ngay tức khắc đặt nạn nhân nằm nghiêng trước khi gọi cấp cứu.

Cách thực hiện tư thế nằm nghiêng

Thông đường thở bằng cách ngửa đầu nạn nhân ra sau và nâng cằm như đã hướng dẫn ở phần trên sau đó đặt cánh tay nạn nhân ở phía gần bạn nhất trong tư thế 90°, lấy cánh tay còn lại của nạn nhân, mu bàn tay nạn nhân áp vào một bên gương mặt.

Tư thế nằm nghiêng an toàn

Tư thế nằm nghiêng an toàn.

Co chân phía xa vị trí của bạn, một tay giữ bàn tay áp má của nạn nhân, một tay bạn giữ đầu gối (nếu bạn thả tay ra thì tứ chi nạn nhân sẽ không giữ được vị trí vì lúc này hệ thống cơ hoàn toàn không hoạt động), trong lúc giữ tay và đầu gối của nạn nhân, bạn lăn nạn nhân nhẹ nhàng sang phía của bạn. Dù nạn nhân có to cỡ nào thì bạn cũng lăn rất dễ dàng nếu bạn làm đúng các thao tác này.

Rút bàn tay của bạn đang nằm dưới đầu nạn nhân, đặt đầu nạn nhân cổ ngửa ra sau, miệng mở để trong trường hợp nạn nhân ói, chất dịch sẽ chảy ra ngoài chứ không chảy ngược vào trong, bạn đặt nạn nân nằm nghiêng với 1 tay co 90°, một tay áp dưới mặt, 1 chân co, một chân duỗi như hình để nạn nhân không bị lật úp mặt dưới nền đất. Sau khi hoàn tất tư thế nằm nghiêng bạn đắp chăn cho nạn nhân (vì khi bị bất tỉnh nạn nhân bị lạnh) và gọi cấp cứu lúc này.

Thông thường, nên đặt nạn nhân nằm nghiêng bên trái của nạn nhân, nhất là trong trường hợp nạn nhân là phụ nữ mang thai. Nếu phụ nữa mang thai bị đặt nằm nghiêng bên phải, trọng lượng cơ thể sẽ đè lên các động mạch đem oxi đến cho thai nhi, có hại cho thai nhi.

Xem thêm >> Massage giúp bé khỏe mạnh, ngoan ngoãn và thông minh hơn

Sơ cứu cầm máu cho nạn nhân

Việc cầm máu trong sơ cấp cứu là rất quan trọng để cứu sống bệnh nhân, nếu cầm máu không đúng cách sẽ càng gây nguy hiểm.

Các bước sơ cứu cầm máu như sau

  • Bước 1: Để cầm máu chúng ta có thể áp dụng một hay nhiều biện pháp sau đây:
  • Bước 2: Ấn động mạch: dùng ngón tay ấn đè chặt vào động mạch đoạn trên vết thương tính từ tim đến vết thương. Có thể dùng ngón tay hoặc cả nắm tay để ấn động mạch, tùy theo mức độ tổn thương và vị trí ấn.
  • Bước 3: Gấp chi tối đa, khi chi bị gấp, động mạch cũng bị gấp và các khối cơ bao quanh đè ép vào động mạch làm cho máu ngừng chảy, nhưng biện pháp gấp chi tối đa chỉ được áp dụng để cầm máu đối với những vết thương không có gãy xương kèm theo.
  • Bước 4: Băng ép: dùng băng với các vòng băng siết tương đối chặt, đè ép mạnh vào các bộ phận bị tổn thương, tạo điều kiện cho việc hình thành cục máu đông để cầm máu. Biện pháp này thích hợp với các vết thương không có thương tổn mạch máu lớn.

Sơ cứu cầm máu

  • Bước 5: Băng chèn: là băng ép nhưng có vật chèn lên các vị trí ấn động mạch, vật chèn được đặt trên đường đi của động mạch, giữa vết thương và tim, càng gần vết thương càng tốt, sau đó băng cố định vật chèn bằng nhiều vòng băng siết tương đối chặt theo kiểu vòng tròn hoặc vòng số 8. Yêu cầu của băng chèn là: đặt vật chèn đúng trên đường đi của động mạch và các vòng băng cố định vật chèn phải siết tương đối chặt.
  • Bước 6: Băng đút nút là cách băng ép có dùng thêm bấc gạc để nhét nút vào vết thương. Biện pháp này thích hợp với các vết thương chảy máu động mạch ở sâu, giữa các kẽ xương, vết thương vùng cổ, vùng chậu.
  • Bước 7: Dùng kẹp để kẹp mạch máu, áp dụng đối với vết thương rộng, nông, kẹp mạch máu rồi để kẹp tại chỗ sau đó chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế.
  • Bước 8: Khâu mép vết thương, sau khi đã nhét gạc chặt vào vết thương, khâu ghì chặt  mép vết thương lại.
  • Bước 9: Đặt garô là biện pháp cầm máu bằng dây cao su hoặc dây vải xoắn chặt vào đoạn chi. Các trường hợp cần đặt garô: vết thương cụt chi, hoặc chi bị đứt gần lìa; chi bị giập nát quá nhiều biết chắc không thể bảo tồn được; vết thương mạch máu đã áp dụng những biện pháp cầm máu nói trên mà không có kết quả; garô khi bị rắn độc cắn.

Cách đặt garô: Ấn động mạch ở phía trên vết thương để cầm máu. Garô phải đặt sát ngay phía trên vết thương, dùng vải hay gạc lót ở chỗ định đặt garô. Đặt garô và xoắn dần, bỏ tay ấn động mạch rồi vừa xoắn vừa theo dõi mạch ở dưới hoặc theo dõi máu chảy ở vết thương, nếu mạch ngừng đập hoặc máu ngừng chảy là được. Cố định que xoắn, nếu là dây cao su thì chỉ cần cuốn nhiều vòng tương đối chặt rồi buộc cố định. Băng ép vết thương. Garô phải để lộ ra ngoài, không để ống quần, tay áo hay băng che lấp garô. Chuyển ngay bệnh nhân đến bệnh viện.

Xem thêm >> 10 điều các mẹ cần biết khi bé ăn dặm

Sơ cứu nạn nhân khó thở

Nguyên nhân:

Các vấn đề về đường hô hấp làm ảnh hưởng trực tiếp đến các thành phần của máu và lưu thông máu, điều này gây ra hàng lọat những triệu chứng khiến nạn nhân khó thở, hoặc những tai nạn có sự va chạm mạnh tại vùng ngực cũng gây ra sự khó thở nghiêm trọng cho nạn nhân, nhưng phổ biến nhất vẫn là nguyên nhân thiếu khí do các nạn nhân ở trong phòng, trong xe kín, nơi đông người….

Biểu hiện:

Ban đầu nạn nhân thường thở nhanh và cạn, Cảm thấy như bên sườn bị đinh ghim hay kim chích.Một số có thể bị hoảng sợ, và co cơ.Thiếu khí có thể gây ra tình trạng hạ huyết áp, một số nạn nhân có thể bị ngất.

Ảnh minh họa sơ cứu người khó thở
Ảnh minh họa sơ cứu người khó thở.

Cách sơ cứu:

Nếu đối mặt với một nạn nhân bị khó thở việc đầu tiên bạn cần làm đó là, di chuyển nạn nhân tới một nơi yên tĩnh và thoáng người. Bởi vì những nạn nhân này thường khó chịu với nhiều người tụ tập chung quanh, điều đó càng làm họ tệ hơn.

Bạn có thể làm nạn nhân yên tâm bằng cách giữ bình tĩnh và nói chuyện với họ. Giúp họ kiểm sóat lại hơi thở.

Nếu nạn nhân bị ngất bạn cần sử dụng phương pháp hô hấp nhân tạo và đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Cảm ơn đã quan tâm và theo dõi bài viết của FamilyAZ.net

Xem thêm: